;
BACK
>

Wednesday, October 12, 2022

5 biểu đồ cho thấy sự bất thường của thị trường nhà ở Mỹ: Có hay không khả năng khủng hoảng 2008 lặp lại?

Thông thường, lãi suất thế chấp cao sẽ là tin rất xấu đối với thị trường nhà ở. Hiện tại, lãi suất thế chấp ở Mỹ đang ở trong giai đoạn tăng mạnh nhất trong lịch sử. Những người mua nhà phải hứng chịu cú sốc lớn khi mà khả năng chi trả của họ đang xấu đi với tốc độ nhanh nhất trong lịch sử.

Thực tế là thị trường nhà ở Mỹ cũng vừa chạm đến những cột mốc rất đáng lưu ý. Chênh lệch giữa lãi suất thế chấp và lãi suất cơ bản tăng lên mức cao chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ. Số nhà mới được bán ra sụt giảm mạnh hơn cả thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính thế giới 2008.

Vậy thì liệu có phải giá nhà và thị trường nhà đất Mỹ sắp sụp đổ? Đó là 1 khả năng có thể xảy ra. Tuy nhiên, theo giới phân tích, có lẽ thị trường chỉ bước vào một giai đoạn kỳ lạ mà thôi.

James Egan, chiến lược gia của Morgan Stanley, mới đây đã hạ dự báo về giá nhà. Tuy nhiên ông chỉ đưa ra con số là 3% - một mức giảm khá nhẹ.

Thị trường nhà ở Mỹ đang chứng kiến những điều chưa từng thấy. Lãi suất thế chấp tăng vọt làm giảm khả năng mua nhà của người dân. Tuy nhiên, không giống như thời kỳ trước năm 2008 và cả khi bong bóng nợ dưới chuẩn vỡ tung, lại có rất ít người bắt buộc phải bán nhà và do đó có rất ít hàng tồn.

"Đầu năm nay, lượng nhà cũ được rao bán giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu những năm 1980. 3 tháng gần đây con số đã tăng lên nhưng tăng rất nhẹ. Điều này khiến giá không giảm", Egan giải thích.

Để hiểu rõ hơn giá nhà đang đi theo xu hướng nào, nhóm nghiên cứu của Morgan Stanley xem xét 4 yếu tố: cung, cầu, mức hợp lý của giá cả và dư nợ tín dụng. Trong khi 2 yếu tố đầu tiên không thay đổi nhanh chóng, 2 yếu tố sau biến động khá nhanh. Và đó chính là những gì đang diễn ra trên thị trường nhà ở Mỹ.

Vì có rất nhiều người sở hữu nhà đang có các khoản vay thế chấp với lãi suất cố định, và bởi vì giá nhà hiện vẫn ở mức cao, phần lớn mọi người không cảm thấy cú sốc. Tuy nhiên, điều này đi kèm với một cái giá phải trả, mà Egan gọi là "hiệu ứng kẹt" (lock-in effect).

"Trong nhiều trường hợp, để có thể bán được nhà, nhiều người sẽ phải đăng ký một khoản vay thế chấp mới với mức lãi suất cao hơn 200, 250, thậm chí là 300 điểm cơ bản so với khoản vay hiện tại. Họ cũng không muốn bán ngôi nhà của mình ở mức giá thấp hơn".

Vì thế thị trường đang xảy ra điều chưa từng có tiền lệ: các chỉ số đo lường sức khỏe của thị trường sụt giảm nhanh chóng, nhưng giá thì không hề lao dốc. Dưới đây là 5 biểu đồ minh họa rõ nét bức tranh thị trường nhà ở Mỹ.

Giá nhà tăng mạnh sau Covid

So với thời điểm đại dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát ở Mỹ, giá nhà đã tăng rất mạnh, vượt qua cả các đỉnh của đầu những năm 2000. Hiển nhiên trên thị trường nổi lên câu hỏi liệu đà tăng này có bền vững hay không.



Lãi suất thế chấp tăng sốc

Trung bình lãi suất áp dụng với khoản vay thế chấp kỳ hạn 30 năm đã tăng từ mức chưa đến 3% trong năm 2020 lên gần 7% ở thời điểm hiện tại, cao nhất kể từ đầu những năm 2000. Tuy nhiên đây chưa phải là điều ấn tượng nhất.

Chênh lệch giữa lãi suất thế chấp và lãi suất cơ bản (đo lường bằng lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm) tăng mạnh hơn rất nhiều.


Với triển vọng kinh tế vĩ mô u ám trong bối cảnh Fed tăng lãi suất và thị trường trái phiếu biến động mạnh, nhiều nhà đầu tư lớn đã né tránh các chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS) và chính điều này góp phần đẩy tăng lãi suất thế chấp. Cùng lúc đó, Fed cũng rời xa thị trường khi bán bớt trái phiếu để thu hẹp bảng cân đối kế toán trong lộ trình thắt chặt định lượng.

"Vì nhiều lý do mà vài năm gần đây thị trường xuất hiện thêm quá nhiều người mua lớn, nhưng giờ họ không sẵn sàng và không thể bước vào thị trường. Đồng thời chúng ta đang chứng kiến mức độ biến động mạnh chưa từng thấy. Tất cả các yếu tố này khiến chênh lệch lợi suất tăng vọt", Egan nói.


Độ hợp lý về giá cả giảm chưa từng thấy

Biểu đồ dưới đây cho thấy mức tăng so với cùng kỳ năm trước của tỷ trọng số tiền phải thanh toán hàng tháng cho khoản vay thế chấp trên tổng thu nhập của 1 hộ gia đình (đường màu xanh) và mức tăng của số tiền phải thanh toán hàng tháng (đường màu vàng).


Nhưng những con số xấu xí này không đồng nghĩa thị trường sụp đổ. Theo Egan, hãy chú ý đến những nhóm thực sự bị giảm khả năng mua nhà. Hầu hết người sở hữu nhà vay thế chấp lãi suất cố định và phần lớn đã tái tài trợ trong mấy năm gần đây để tận dụng mức lãi suất siêu thấp. Do đó họ không bị ảnh hưởng.

Hiệu ứng kẹt

Vì nhiều chủ nhà đủ may mắn để được hưởng mức lãi suất thấp không có lý do gì để bán nhà trong môi trường lãi suất tăng và giá giảm nhẹ như hiện nay, thị trường đang chứng kiến hiệu ứng kẹt khi mà các chủ nhà không muốn đưa ngôi nhà của mình ra thị trường.

Kết quả là lượng cung các ngôi nhà dành cho 1 gia đình cơ bản hiện đang ở mức thấp nhất 40 năm.


Điều này có thể giúp giá không giảm quá sâu, nhưng chắc chắn đây là tin xấu cho những công ty môi giới bất động sản. Lượng hàng bán ra đang giảm mạnh hơn cả thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu.


Các tiêu chuẩn tín dụng bị thắt chặt

Khi nhìn thấy doanh số bán nhà giảm mạnh nhất kể từ 2008, chắc hẳn bất cứ ai cũng sẽ tự hỏi liệu có phải bong bóng nợ dưới chuẩn từng thổi bùng lên khủng hoảng tài chính sẽ lặp lại hay không. Nhưng Egan cho rằng có một số yếu tố khiến câu chuyện lần này khác hoàn toàn, ví dụ như thị trường hiện đang thiếu nguồn cung trầm trọng. Tuy nhiên, có lẽ điểm khác biệt lớn nhất là tín dụng.

Trước năm 2008, dường như ai cũng có thể dễ dàng vay thế chấp để mua nhiều bất động sản. Sau khủng hoảng, các tiêu chuẩn cho vay đã được thắt chặt đán gkể, và những sản phẩm cho vay từng gây rắc rối đã biến mất khỏi thị trường. Điều đó có nghĩa là trên lý thuyết những ai đang sở hữu nhà vẫn sẽ ổn kể cả khi nền kinh tế giảm tốc.

Tất nhiên không thể coi thường các tác động của lãi suất tăng lên nền kinh tế. Nếu như tình hình đủ tệ và nhiều người mất việc làm, sẽ có nhiều người bán gặp áp lực kinh tế và có thể giải phóng lượng hàng tồn, gây áp lực giảm giá.

"Phá sản và tịch biên sẽ không xảy ra, nhưng giá sẽ giảm mạnh hơn", Egan nói.

Tham khảo Bloomberg

Rất hiếm khi TTCK có mức định giá thấp như hiện tại

 

Theo thống kê của Yuanta, trong lịch sử lạm phát thấp kể từ năm 2013 chỉ có duy nhất 3 lần mức P/E dưới mức 11.x. Điều này cho thấy rất hiếm khi TTCK có mức định giá thấp như hiện nay.

Thời gian gần đây, thị trường chứng khoán liên tục trồi sụt mạnh trước nhiều thông tin bất lợi. Những phiên giao dịch đầy biến động đã “thổi bay” hàng trăm điểm của chỉ số, VN-Index có thời điểm “nhúng” dưới mốc 1.000 điểm.

Trong báo cáo chiến lược mới công bố, Chứng khoán Yuanta cho rằng những phiên sụt giảm mạnh đã khiến định giá của chứng khoán Việt Nam trôi về mức rất thấp. Cụ thể, mức P/E dự phóng 2022 đạt 9.7x, tương đương mức thấp nhất trong tháng 3/2020 (thời điểm TTCK giảm mạnh do ảnh hưởng từ bùng phát dịch Covid).

Theo thống kê của Yuanta, trong lịch sử lạm phát thấp kể từ năm 2013 chỉ có duy nhất 3 lần mức P/E dưới mức 11.x. Điều này cho thấy rất hiếm khi TTCK có mức định giá thấp như hiện nay.

Rất hiếm khi TTCK có mức định giá thấp như hiện tại - Ảnh 1.

Đồ thị giá giảm về đường trung bình 50 tháng, đây là đường hỗ trợ cho đồ thị giá của chỉ số VN-Index kể từ 2012 đến nay. Trong ngắn hạn, thị trường sẽ sớm tìm điểm cân bằng, nhưng xu hướng dài hạn vẫn duy trì ở mức giảm. Do đó, Yuanta cho rằng chỉ số VN-Index có thể sẽ biến động quanh đường trung bình 50 tháng, tức là quanh mức 1.095 điểm trong tháng 10.

Nhìn nhận bối cảnh vĩ mô, đội ngũ phân tích cho rằng vẫn còn nhiều rủi ro khó lường. Theo đó, đà tăng trưởng cao khó có thể kéo dài trong quý 4 vì mức GDP quý 4/2021 thậm chí cao hơn so với các quý trong năm 2022 vừa qua. Vì vậy, đội ngũ phân tích ước tính GDP quý 4 sẽ tăng khoảng 3,2%.

Mặt khác, xuất nhập khẩu đã bắt đầu có dấu hiệu chững lại khi lạm phát cao tại các nước đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Mỹ và châu Âu. Điểm tích cực trong hoạt động xuất khẩu là thặng dư thương mại cao trong những tháng gần đây, lũy kế 9 tháng đầu năm là xuất siêu 6,5 tỷ USD, đây sẽ là yếu tố hô trợ cho việc kiểm soát tỷ giá trong bối cảnh đồng USD tiếp tục tăng mạnh.

FDI giải ngân vẫn duy trì đà tăng trưởng tốt, song đội ngũ phân tích cũng lưu ý nguồn vốn FDI đăng ký mới có thể sẽ chưa thể tăng mạnh trong ngắn hạn do những rủi ro về tỷ giá, lãi suất Fed và và kinh tế toàn cầu đang trong giai đoạn bất ổn, điều này sẽ khiến cho các doanh nghiệp FDI cân nhắc trong các quyết định tìm hiểu đầu tư một dự án mới.

Đặc biệt, rủi ro vẫn còn lớn khi tyẻ giá vẫn chịu áp lực lớn và lãi suất liên ngân hàng chịu áp lực tăng. Dù đánh giá VND tiếp tục là một trong những đồng tiền mất giá ít nhất trong khu vực trong tháng 9 nhờ lượng dữ trữ ngoại hối lớn khi SBV đã bán ròng USD trong 2 tháng qua để kìm đà tăng tỷ giá. Tuy nhiên, chuyên gia Yuanta cho rằng áp lực tỷ giá chưa thể hạ nhiệt trong ngắn hạn do xuất khẩu và dòng vốn FDI đăng ký chậm lại.

Rất hiếm khi TTCK có mức định giá thấp như hiện tại - Ảnh 2.

Mặt khác, lãi suất liên ngân hàng tăng ở các kỳ hạn và áp lực này vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt sớm. Lợi suất trái phiếu chính phủ cũng như lãi suất tại các ngân hàng hầu hết tăng ở các kỳ hạn. Điều này cho thấy các rủi ro vĩ mô tiếp tục xu hướng tăng mạnh trong tháng 9. Mức tăng lợi suất trái phiếu trong tháng 9 khá cao, đã đẩy lợi suất 10N lên mức 4,9%, cao hơn nhiều so với mức trước dịch Covid khoảng 3,4%.

Chính vì vậy, báo cáo Yuanta khuyến nghị các nhà đầu tư dài hạn chưa nên tăng tỷ trọng cổ phiếu và chỉ nắm giữ tỷ trọng cổ phiếu ở mức 35-40% danh mục.Một số nhóm cổ phiếu nhà đầu tư có thể quan tâm trong tháng 10 là những cổ phiếu có tính chất phòng thủ cao như điện nước, đồ uống, công nghiệp nặng và vận tải.

Hạ Anh

Nhịp sống thị trường

Friday, October 7, 2022

Nhóm cổ phiếu nào bật tăng mạnh nhất sau mỗi đợt downtrend lớn trong 10 năm gần đây?

 

Theo thống kê những nhịp giảm mạnh trong 10 năm trở lại đây, ABS cho rằng có một số nhóm ngành có sự hồi phục và tăng trưởng nhanh nhất, phù hợp với đầu tư dài hạn.

Kể từ tháng 4/2022, thị trường chứng khoán gặp nhiều sóng gió khi ghi nhận nhiều phiên điều chỉnh mạnh. Hiện, giá các nhóm cổ phiếu hiện tại đã chiết khấu sâu so với đỉnh trong đó ngành tài chính và ngân hàng ghi nhận mức giảm mạnh nhất lần lượt là -31% và -26%.

Nhóm cổ phiếu nào thường hồi phục tốt nhất sau mỗi nhịp giảm mạnh?

Theo thống kê của Chứng khoán ABS, trong những nhịp giảm mạnh trong 10 năm vừa qua, mức độ giảm từ đỉnh xuống đáy khoảng 20-25%. Hiện tại, sau 3 nhịp giảm đầu tiên và giai đoạn tích luỹ đáy, VN-Index ghi nhận mức giảm khoảng 26%. Mức độ chiết khấu sâu của thị trường chỉ sau giai đoạn Covid trong 10 năm nay, P/E đang tiến tới vùng định giá hấp dẫn 10-11x.

Nhóm cổ phiếu nào bật tăng mạnh nhất sau mỗi đợt downtrend lớn trong 10 năm gần đây? - Ảnh 1.

Cũng theo thống kê những nhịp giảm mạnh trong 10 năm trở lại đây, có một số nhóm ngành có sự hồi phục và tăng trưởng nhanh nhất, phù hợp với đầu tư dài hạn.

Thứ nhất, ngành dầu khí (có nhịp tăng trong cả 4 giai đoạn với mức chốt lời thấp nhất 21,14% sau 1 tháng kể từ ngày tạo đáy năm 2018 và lớn nhất là 106,77% sau 1 năm trong giai đoạn 2022).

Thứ hai, ngành tiện ích cộng đồng bao gồm điện, nước (có mức tăng thấp nhất 31,71% và cao nhất lên tới 105,97%).

Nhóm cổ phiếu nào bật tăng mạnh nhất sau mỗi đợt downtrend lớn trong 10 năm gần đây? - Ảnh 2.

Thứ ba, các nhóm ngành khác như công nghệ thông tin, nhóm nguyên vật liệu, nhóm ngành tài chính, ngân hàng có mức tăng cao hơn VN-Index cũng có thể là cơ hội đầu tư trong nhịp chỉnh khi định giá về mức hấp dẫn.

Nhà đầu tư cần đưa ra chiến lược phù hợp

Dự báo diễn biến tiếp theo, ABS cho rằng VN-Index nhiều khả năng sẽ tiếp tục giao dịch trong xu hướng giảm theo xu hướng chung của chứng khoán thế giới. Do đó, trong ngắn hạn thị trường có thể tiếp tục giao dịch tích lũy trong vùng 1.050 -1.080 trước bối cảnh vĩ mô nhiều rủi ro và dòng tiền bị rút ra để chuyển sang các tài sản trú ẩn an toàn hơn.

Nhìn về triển vọng cuối năm nay, ABS kỳ vọng trong dài hạn VN-Index vẫn sẽ hồi phục và quay lại vùng 1.200 – 1.300 nhờ một số yếu tố hỗ trợ.

Hỗ trợ tới từ các yếu tố vĩ mô khi kinh tế Việt Nam trong năm 2022 dự kiến vẫn sẽ tăng trưởng tốt theo kế hoạch GDP ở mức 7,5% - 8% cuối năm 2022.

Thị trường đang ở vùng định giá hấp dẫnkhi VN-Index đã giảm 26% từ vùng đỉnh và mức định giá P/E của toàn thị trường hiện ở mức 12x.

Kết quả kinh doanh 9 tháng của các doanh nghiệp niêm yết dự kiến sẽ được công bố trong thời gian tới sẽ là yếu tố hỗ trợ cho các cổ phiếu có yếu tố tài chính tốt nhưng đang bị giảm theo áp lực của thị trường.

Về chiến lược hành động, ABS cho rằng các nhà đầu tư ngắn hạn tạm thời chưa nên giải ngân khi thị trường vẫn đang trong trạng thái rung lắc. Đối với các nhà đầu tư có tỷ trọng cổ phiếu cao hoặc đang sử dụng margin cần tận dụng các nhịp hồi phục của thị trường để hạ tỷ trọng.

Đối với nhóm nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro cao, thích giao dịch ngắn hạn có thể chú ý đến 3 nhóm ngành (1) ngành dầu khí khá nhạy sóng và có mức độ hồi phục cao hơn VN-Index trong 4 nhịp giảm gần đây, hưởng lợi thông tin giá dầu (2) ngành đạm hưởng lợi từ xu hướng tăng giá ure và căng thẳng địa chính trị, tỷ trọng tiền mặt ròng/tổng tài sản cao (3) ngành bán lẻ với KQKD quý 3 bùng nổ từ nền thấp năm 2021 và giai đoạn mua sắm cuối năm, ra mắt iphone,…

Nhóm cổ phiếu nào bật tăng mạnh nhất sau mỗi đợt downtrend lớn trong 10 năm gần đây? - Ảnh 3.

Đối với những nhà đầu tư giá trị cần bình tĩnh quan sát thị trường và có thể giải ngân sau khi thị trường đạt trạng thái cân bằng và tích luỹ ở vùng đáy. Đối với nhà đầu tư có rủi ro cao, ưa thích giao dịch ngắn hạn, có thể tận dụng nhịp hồi để tham gia giao dịch với tỷ trọng nhỏ.

Hạ Anh

Nhịp sống thị trường


Monday, August 1, 2022

Những con số kỳ lạ về lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ

 Những con số kỳ lạ về lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ

Suy thoái vì đại dịch Covid-19 là cuộc suy thoái ngắn nhất trong lịch sử kinh tế Mỹ. Kể từ năm 1857 đến nay, Mỹ đã có đến 34 cuộc suy thoái chính thức được công nhận.

Trong khi Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) nâng lãi suất chống lạm phát cao nhất 40 năm thì các nhà kinh tế lại đang lo lắng về những dấu hiệu giảm tốc, đồng thời đặt câu hỏi liệu Mỹ đã suy thoái hay chưa.

Những con số kỳ lạ về lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ - Ảnh 1.

Số liệu của Bộ thương mại Mỹ cho thấy GDP của nước này đã giảm 0,9% trong quý II/2022, tương đương mức suy giảm 2 quý liên tiếp. Đây là tiêu chuẩn để định nghĩa suy thoái kỹ thuật ở nhiều nền kinh tế, thế nhưng Mỹ lại không áp dụng chúng và Cục nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER), cơ quan có thẩm quyền tuyên bố suy thoái thì vẫn chưa lên tiếng.

Những con số kỳ lạ về lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ - Ảnh 2.

Thay vì chỉ dựa vào GDP, NBER thường lựa chọn một số yếu tố như thu nhập cá nhân, thị trường lao động, doanh thu bán lẻ hay sản lượng công nghiệp để nhận định về tình hình kinh tế Mỹ. Bởi vậy thông thường cơ quan này chỉ chính thức xác nhận nền kinh tế đã rơi vào suy thoái hay chưa sau khi mọi chuyện đã rõ ràng được vài tháng.

Những con số kỳ lạ về lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ - Ảnh 3.

Kể từ khi được thành lập vào năm 1978, NBER đã trải qua 6 cuộc suy thoái kinh tế Mỹ và cơ quan này mất khoảng 4 tháng đến 1 năm để xác nhận.

Tương tự, việc thẩm định xem nền kinh tế đã thoát khỏi suy thoái hay chưa cũng tốn nhiều thời gian của NBER khi cơ quan này phải chờ đợi số liệu chắc chắn.

Những con số kỳ lạ về lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ - Ảnh 4.

34 cuộc suy thoái

Kể từ năm 1857, Mỹ đã có 34 cuộc suy thoái kinh tế chính thức, kèo dài từ 2 tháng cho đến hơn 5 năm.

Tuy nhiên nhờ những chính sách kinh tế hiệu quả cũng như nghiên cứu chuyên sâu của chuyên gia, kinh tế Mỹ ngày càng ít suy thoái trong thời gian vài thập niên trở lại đây. Tính từ đầu thế kỷ này, Mỹ mới trải qua 3 cuộc suy thoái, thậm chí đại dịch Covid-19 năm 2020 cũng chỉ là cuộc suy thoái ngắn nhất trong lịch sử nước này với thời gian 2 tháng.

Những con số kỳ lạ về lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ - Ảnh 5.

Trong năm vừa qua, tăng trưởng thu nhập cá nhân tại Mỹ đã giảm tốc trong khi các ngành sản xuất gặp nhiều khó khăn do đứt gãy chuỗi cung ứng và lạm phát cao. Đây là dấu hiệu báo trước chung của 3 cuộc suy thoái gần đây nhất trước khi nền kinh tế bộc lộ tiêu cực rõ ràng.

Dẫu vậy, việc Mỹ đã suy thoái hay chưa còn không rõ bởi tăng trưởng ở một số ngành như công nghiệp vẫn khá mạnh. Số lao động có việc làm cũng tăng trưởng nhanh hơn trước dù chưa lấy lại được mức như thời trước đại dịch.

Những con số kỳ lạ về lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế Mỹ - Ảnh 6.

Vào tuần trước, Chủ tịch FED Jerome Powell cho biết ông không tin rằng nền kinh tế Mỹ đã rơi vào suy thoái. Chủ tịch Powell viện dẫn con số 2,7 triệu người lao động được tuyển dụng trong nửa đầu năm nay để cho thấy kinh tế Mỹ không yếu như mọi người lo lắng.

*Nguồn: WSJ

Wednesday, July 13, 2022

FED nâng lãi suất nhanh đột biến, ảnh hưởng thế nào đến kinh tế Việt Nam?

Sẽ có năm tác động lớn từ chính sách của FED đến nền kinh tế Việt Nam sau khi cơ quan này quyết định tăng thêm 0,75 điểm phần trăm đánh dấu mức tăng mạnh nhất được thực hiện trong một cuộc họp duy nhất kể từ tháng 11/1994...

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Tại cuộc họp ngày 14-15/06/2022, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã quyết định tăng lãi suất điều hành thêm 75 điểm cơ bản lên biên độ mới từ 1,5% đến 1,75%. Quyết định tăng thêm 0,75% đánh dấu mức tăng mạnh nhất được thực hiện trong một cuộc họp duy nhất kể từ tháng 11/1994.

Về lộ trình tăng lãi suất tiếp theo, các thành viên FOMC dự báo lãi suất điều hành có thể tăng lên mức 3,1-3,6% vào cuối năm 2022 (cao hơn 1,5% so với ước tính hồi tháng 3) và lên 3,6-4,1% vào năm 2023 (cao hơn 1% so với dự báo trước đó).

NĂM TÁC ĐỘNG LỚN TỪ CHÍNH SÁCH FED ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM

Theo đánh giá của VnDiret, sẽ có năm tác động lớn từ chính sách của FED đến nền kinh tế Việt Nam. 

Thứ nhất, tình hình tài chính toàn cầu thắt chặt hơn làm giảm triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế thế giới, dẫn đến nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn. Việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ làm tăng lãi suất cho vay (bằng đồng USD) từ đó làm giảm nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng như làm suy yếu nhu cầu mở rộng đầu tư của các doanh nghiệp.

Do đó, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam có thể sẽ chậm lại trong những quý tới do người tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu chủ chốt như Mỹ và châu Âu thắt chặt chi tiêu.

Thứ hai, lãi suất huy động (bằng VND) chịu áp lực tăng trong những tháng cuối năm. Tính đến cuối tháng 5/2022, lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng và kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng quốc doanh không đổi so với mức cuối năm 2021 trong khi lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng và lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng tư nhân lần lượt tăng 20 điểm cơ bản và 23 điểm cơ bản so với mức cuối năm 2021.

Lãi suất huy động sẽ tiếp tục tăng từ giờ đến cuối năm 2022 do lãi suất USD tăng và áp lực lạm phát tại Việt Nam tăng cao trong những quý tới. Tuy nhiên, mức tăng sẽ không lớn với dự báo lãi suất từ nay tới cuối năm tăng thêm khoảng 30-50 điểm cơ bản. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại có thể tăng lên 6,0-6,2%/năm vào cuối năm 2022 (hiện ở mức bình quân là 5,7%/năm), vẫn thấp hơn so với mức trước đại dịch là 7,0%/năm.

FED nâng lãi suất nhanh đột biến, ảnh hưởng thế nào đến kinh tế Việt Nam? - Ảnh 1

Thứ ba, lãi suất USD tăng gây áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam. Theo ước tính, nợ nước ngoài của Việt Nam chiếm 39% GDP vào cuối năm 2021. Trong bối cảnh thanh khoản trên thị trường tài chính quốc tế thắt chặt hơn, Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó huy động vốn trên thị trường quốc tế và phải chịu lãi suất cao.

Thứ tư, về lý thuyết, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) có thể bị tác động tiêu cực bởi “taper tantrum”. Tuy vậy, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã chứng kiến một đợt giảm điểm mạnh trong hai tháng qua, kéo mặt bằng định giá các chỉ số chứng khoán về vùng hấp dẫn khi so sánh với lịch sử và các thị trường chứng khoán trong khu vực. Định giá hấp dẫn sẽ kích thích dòng vốn ngoại đổ vào thị trường Việt Nam và phần nào giảm thiểu tác động của “taper tantrum”.

Thứ năm, đồng USD mạnh gây áp lực lên tỷ giá hối đoái của Việt Nam. Vào ngày 14/06/2022, chỉ số đồng USD (đo sức mạnh của đồng USD so với rổ tiền tệ) đạt 104,7 điểm, mức cao trong vòng 20 năm qua. Đồng USD mạnh kéo tỷ giá USD/VND tăng 1,7% kể từ đầu năm. Tuy nhiên, VND vẫn là một trong những đồng tiền ổn định nhất khu vực. Các yếu tố cơ bản để giữ cho VND ổn định trong những năm gần đây vẫn được duy trì, bao gồm thặng dư thương mại cải thiện và dự trữ ngoại hối cao.

Kỳ vọng thặng dư thương mại tăng lên mức 7,2 tỷ USD trong năm 2022 từ mức 3,3 tỷ USD trong năm 2021. Thặng dư tài khoản vãng lai dự báo tăng lên mức 1,4% GDP vào năm 2022, từ mức thâm hụt 0,3% GDP vào năm 2021. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt 122,5 tỷ USD vào cuối năm 2022 (tương đương 3,9 tháng nhập khẩu).

Bên cạnh đó, giải ngân FDI tăng trưởng ổn định và nguồn kiều hối dồi dào cũng góp phần ổn định thị trường ngoại hối. Do đó, tỷ giá USD/VND tăng không quá 2% trong cả năm 2022.

FED nâng lãi suất nhanh đột biến, ảnh hưởng thế nào đến kinh tế Việt Nam? - Ảnh 2

DƯ ĐỊA ĐỂ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC DUY TRÌ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NỚI LỎNG

Với việc FED đẩy nhanh lộ trình tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát, VnDirect cho rằng dư địa để Ngân hàng Nhà nước duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng đang ngày một thu hẹp. Tuy vậy, Ngân hàng Nhà nước sẽ nỗ lực duy trì chính sách tiền tệ “phù hợp”, chưa vội thắt chặt chính sách ngay để hỗ trợ nền kinh tế phục hồi và ổn định thị trường vì mặc dù áp lực lạm phát trong nước dự kiến sẽ gia tăng trong những tháng tới, nhưng chỉ số giá tiêu dùng bình quân nửa đầu năm 2022 dự báo ở mức 2,5% so với cùng kỳ, vẫn thấp hơn nhiều so với mục tiêu của Chính phủ là 4%.

Ngoài ra, nhu cầu trong nước vẫn yếu và chưa phục hồi hoàn toàn về mức trước đại dịch và Ngân hàng Nhà nước vẫn ưu tiên mục tiêu duy trì lãi suất cho vay thấp để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế phục hồi.

Đối với lãi suất điều hành, nếu có bất kỳ đợt tăng nào trong năm nay thì khả năng cao sẽ diễn ra vào quý 4/2022 và mức tăng (nếu có) sẽ hạn chế, khoảng 0,25-0,5%. Ngân hàng Nhà nước sẽ cho phép tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế. Dòng vốn tín dụng sẽ được ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên như công nghiệp, xuất nhập khẩu, nông, lâm, thủy sản.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước sẽ kiểm soát kỹ dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán và các dự án BOT (Xây dựng-Kinh doanh-Chuyển giao).

VnDirect duy trì quan điểm rằng tăng trưởng tín dụng duy trì mức cao 14% so với cùng kỳ trong năm 2022.

Về lãi suất cho vay, Ngân hàng Nhàn ước đang triển khai gói cấp bù lãi suất với tổng quy mô lên tới 43.000 tỷ đồn. Gói cấp bù lãi suất có thể giúp giảm mặt bằng lãi suất cho vay trung bình từ 20-40 điểm cơ bản trong năm 2022. Tuy nhiên, tác động thực tế của gói cấp bù lãi suất đối với doanh nghiệp và nền kinh tế có thể thấp hơn nếu các ngân hàng thương mại tăng lãi suất cho vay đối với các khoản vay thông thường khác để bù đắp việc tăng lãi suất huy động.

An Nhiên